Home About us Products Technical Research - Development Partners News - Event Contact us
Welcome to visit our website - The company provides quality feed supplement in Vietnam
TECHNICAL
ONLINE SUPPORT
Sales
Technical

Các lọai vitamine thường dùng



Tên hình Các lọai vitamine thường dùng Các vitamin quan trọng trong dinh dưỡng gia súc Vitamin Tên hóa học A. Tan trong dầu A Retinol D2 Ergocalciferol D3 Cholecalciferol E Tocopherol)*...

Vitamin A
- Tinh thể rắn màu xanh nhạt, không tan trong nước nhưng tan trong dầu và các dung môi hữu cơ khác. Dễ dàng bị oxy hóa khi tiếp xúc với ánh sáng và không khí.

Nguồn vitamin A:
- Vitamin A tích lũy trong gan, vì vậy gan được xem là nguồn cung cấp tốt nhất, tuy nhiên hàm lượng có trong gan thay đổi tùy theo động vật và khẩu phần.
- Vitamin A không có ở thực vật, nhưng có mặt tiền vitamin ở dạng các caroteneoit, sẽ chuyển đổi thành vitamin A trong cơ thể động vật. Có ít nhất 80 tiền vitamin được biết bao gồm các a-, b-, g- caroten, cryptoxanthin có mặt ở thực vật bậc cao và myxoxanthin có mặt trong tảo lục và tảo lam. Không phải tất cả các caroteneoit là tiền vitamin A. Ví dụ, xantophyl là một sắc tố đáp ứng chủ yếu cho lòng đỏ trứng. Trong các tiền vitamin thì b-caroten có phân bố rộng rãi và hoạt động nhất. Tinh thể b-caroten có màu vàng đỏ và dung dịch có màu vàng cam. Tất cả tiền vitamin đều không tan trong trong nước nhưng tan trong dầu và dung môi hữu cơ. b-caroten rất dễ bị oxy hoá, đặc biệt là ở nhiệt độ cao của không khí. Thức ăn phơi dưới ánh sáng mặt trời hàm lượng b-caroten mất rất nhiều.
- Trừ ngô vàng, tất cả các thức ăn đậm đặc khác của gia súc đều thiếu tiền vitamin A. Caroten cũng có mặt trong vài mô của động vật như là mô mỡ của bò và ngựa, không có ở mô mỡ của cừu và lợn. Chúng còn tìm thấy trong lông vũ của chim, lòng đỏ trứng và mỡ sữa.
- Sự chuyển đổi caroten thành vitamin xảy ra trong vách tế bào ruột non và trong gan. Về mặt lý thuyết thì thuỷ phân một phân tử b-caroten sẽ cho ra hai phân tử vitamin A. Tuy nhiên, hiệu quả chuyển đổi kém hơn bởi vì hiệu quả hấp thu caroten trong ruột kém hơn vitamin A. ARC (Agricultural Reseach Council) đề nghị để có tương đương 1mg retinol trong khẩu phần nên cung cấp 11 mg cho lợn và 6 mg cho vật nhai lại. Đối với gà thì hiệu quả chuyển đổi là 1-4, thường sử dụng hệ số 3. Đơn vị vitamin A trong thức ăn gọi là IU (International Unit), một IU vitamin A bằng 0,3 mg retinol hoạt tính.

Trao đổi vitamin A:
- Vitamin A có hai vai trò khác nhau trong cơ thể tuỳ theo nhiệm vụ của nó trong mắt hoặc trong hệ thống chung của cơ thể. Trong mắt, vitamin A (all-trans-retinol cũng được gọi là trans vitamin A) bị oxy hoá cho ra aldehyt (all-trans-retinaldehyt cũng được gọi là trans-retinen 1) có thể chuyển thành đồng phân 11-cis. All-trans-retinaldehyt kết hợp với protinsin thành rhodopsin là một chất tiếp nhận cường độ quang khi ánh sáng có cường độ thấp. Khi vào trong bóng tối rhodopsin bị phân giải để chuyển hóa thành đồng phân all-trans (Hình 8.1). Sự chuyển đổi này kích thích thần kinh thị giác. Khả năng nhìn thấy ánh sáng của mắt (thị lực) phụ thuộc vào mức độ tổng hợp rhodopsin và khi thiếu vitamin A thì rhodopsin không thể tổng hợp được. Một trong những triệu chứng thiếu vitamin A đầu tiên là con vật bị quáng gà (Night blindness).
- Vai trò thứ hai của vitamin A là thành lập và bảo vệ các tế bào biểu mô.

Triệu chứng thiếu:
- Ở bò trưỏng thành: lông thô, da tróc vẩy, thiếu lâu dài thì mắt bị ảnh hưởng, chảy nước mắt, giác mô mềm, đóng vẩy cá, dây thần kinh thắt lại và con vật bị mù.
- Bò sinh sản: không đậu thai, hoặc sẩy thai, thai yếu hoặc chết hoặc bê con sinh ra bị mù. Trong thực tế triệu chứng thiếu vitamin A trầm trọng ít xảy ra ở động vật lớn. Động vật chăn thả thường ăn số lượng tiền vitamin nhiều hơn bình thường. Nếu bò nuôi bằng thức ăn ủ chua hoặc cỏ dự trữ trong mùa đông kéo dài thì triệu chứng thiếu vitamin A xảy ra.
- Ở lợn: Mắt bị đóng vẩy, có thể bị mù. Lợn nái thiếu vitamin A sinh con dị dạng và bị mù.
- Ở gia cầm: Tỷ lệ chết cao. Triệu chứng đầu tiên là chậm lớn, lông xù, dáng đi lảo đảo. Ở gà đẻ giảm tỷ lệ trứng đẻ nở. Thức ăn của gia cầm thường là hạt ngũ cốc nên phải bổ sung vitamin A bằng bắp vàng, bột cỏ khô hoặc thức ăn xanh hoặc thỉnh thoảng nên bổ sung dầu gan cá.

Vitamin D

Cấu tạo hóa học:
- Có hơn 10 vạn vitamin nhưng chỉ có hai dạng quan trọng nhất là vitamin D2 (ergocalciferol) và vitamin D3 (cholecalciferol).
- Vitamin D2 và D3 bền hơn vitamin A khi bị oxy hóa và D3 ­bền hơn D2.

Nguồn:
- Vitamin D ít có trong thức ăn trừ trường hợp như cỏ được phơi nắng và lá úa của cây còn non. Ở động vật, vitamin D3 có một ít ở và loại tổ chức nhưng ở cá thì có rất nhiều. Dầu gan cá là nguồn vitamin D3 tốt và trứng cũng chứa nhiều vitamin D3. Sữa thường thì rất ít còn sữa non chứa nhiều gấp 6- 10 lần sữa thường.
- Ở tuyến phao câu của gà là nơi hình thành và dự trữ vitamin D. Nếu cắt bỏ tuyến này gà sẽ bị bệnh còi xương (Rickets).

Các tiền vitamin D gồm:
- Ergosterol là tiền vitamin của vitamin D2
-7-Dehydrocholesterol là tiền vitamin của vitamin D3
Các tiền vitamin không có giá trị vitamin, các sterol này phải chuyển thành canxiferol thì mới được gia súc sử dụng. Sự chuyển đổi này cần phải có sự tác động của bức xạ mặt trời hoặc một số yếu tố vật lý khác. Hiệu suất chuyển đổi tốt nhất ở độ dài bước sóng 290-315 nm.
Sự vận chuyển hóa học xảy ra ở da và sự bài thải cũng xảy ra ở da là nơi dự trữ các tiền vitamin, bệnh còi xương cũng có thể chữa trị khỏi bằng cách bôi dầu gan cá lên da.

Sự chuyển hóa:
- Gan là nơi thực hiện chuyển đổi vitamin D2 và D3 thành 25- hydroxycholecalciferol, đây là dạng hoạt động sinh học mạnh nhất của vitamin. Tuyến phó giáp trạng điều tiết sự sản xuất 1,25-dihydroxycholecanxiferol hơn là làm tăng tỷ lệ hấp thu ở ruột.
- Sự trao đổi vitamin D có thể tóm tắt như sau:
Đơn vị tính của vitamin D:
1. Đơn vị quốc tế (IU): 1 IU vitamin D là hoạt động của 0,025 r (roentengen) của vitamin D3 (1 roentengen là lượng bức xạ để sản sinh một đơn vị tĩnh điện của ion trong mỗi mililit).
2. Đơn vị gà quốc tế ( I.CU) = 0,025r vitamin D3.

Triệu chứng do sự thiếu vitamin D:
- Gia súc còn non mắc bệnh còi xương. Gia súc lớn gọi là bệnh mềm xương (Osteomalacia). Cả hai bệnh trên có thể xảy ra do thiếu Ca và P.
- Bổ sung vitamin D cho lợn và gà quan trọng hơn là trâu bò bởi vì trâu bò có thể nhận đầy đủ vitamin trong khi chăn thả hoặc từ cỏ khô. Có một vài loại thức ăn như ngũ cốc và men bia sống có thể gây ra bệnh còi xương cho động vật có vú, prôtein đậu nành sống và gan tươi cũng gây ảnh hưởng tương tự trên gia cầm. Để khắc phục nên gia tăng bổ sung lượng vitamin D gấp 10 lần khi có mặt toàn bộ hạt đậu nành sống.
- Thức ăn nếu thiếu vitamin D thì có khoảng 20% Ca được hấp thu. Nếu có vitamin D thì lượng hấp thu lên đến 50-80%. Mức độ hấp thu P cũng tùy thuộc vào Ca. Ca được dự trữ trong các mô mềm dưới dạng kết hợp với protein thành một chất gọi là protein liên kết Ca. Ca rất có ái lực với protein này, do đó mức độ hấp thu Ca liên hệ rất chặt chẽ với loại protein này vì có hệ số liên hệ lớn (r = 0,99). Sự hấp thu và sử dụng vitamin D2,, D3 gần như nhau ở bò, cừu và heo, gà thì chỉ sử dụng được vitamin D3 (vitamin D2 chỉ sử dụng được 1/35 vitamin D3).

Vitamin E
- Evans và Emerson (1936) đã tìm ra vitamin E trong lúa mì, được gọi là Tocopherol (Toco = đẻ con, phero = mang, ol = rượu). Có 8 dạng vitamin E trong tự nhiên đang hoạt động, trong đó có 4 vitamin bão hòa a, b, g và d-Tocopherol là dạng hoạt động sinh học mạnh nhất và phổ biến nhất.
- Đơn vị tính là IU = hoạt động của 1 mg axetat-tocopherol tổng hợp.

Nguồn:
- Vitamin E phân bố rộng rãi trong thức ăn, cỏ tươi và cỏ non là nguồn rất giàu vitamin E. Giá đỗ và mầm của hạt ngũ cốc (lúa) chứa rất nhiều vitamin E. Lá chứa gấp 20 - 30 lần so với cọng. Hạt ngũ cốc cũng là nguồn chứa vitamin E nhưng thành phần hóa học thay đổi theo giống. Ví dụ, hạt lúa mì chứa chủ yếu là a- tocopherol, ngô còn có thêm g-tocopherol.
- Các sản phẩm của động vật chứa rất ít vitamin E mặc dù số lượng phụ thuộc vào lượng vitamin E khẩu phần.

Trao đổi vitamin E:
- Mặc dù chức năng sinh học của vitamin E chưa biết chính xác nhưng người ta cho rằng nó có mặt trong các enzym. Chức năng của vitamin E là :
- Chất kháng oxy hóa sinh học, có tác dụng ngăn ngừa có hiệu quả bệnh gà điên (Encephalomalacia), trong lúc đó selen thì không có tác dụng quan trọng đó. Trong khi bổ sung không đủ vitamin E thì không ngăn ngừa bệnh teo cơ bắp (Muscular distrophy) thì việc bổ sung selen liều thấp vào khẩu phần làm giảm nhu cầu vitamin E cần thiết để ngừa bệnh. Selen là một chất khoáng rất độc vì vậy phải cẩn thận khi bổ sung vào khẩu phần cho gia súc.
- Ngoài ra, vitamin E còn kết hợp với selen bảo vệ phospholipit khỏi bị phá hủy của các peroxit; tham gia phản ứng phosphoryl hóa; tham gia trong trao đổi axit nhân; tham gia tổng hợp axit ascorbic; và tham gia tổng hợp ubiquinon (Coenzyme Q).

Triệu chứng thiếu vitamin E:
- Triệu chứng thiếu vitamin E có thể tóm tắt ở bảng VI.3.
- Triệu chứng do thiếu vitamin E
- Vitamin E và selen có quan hệ với nhau, đa số các chứng bệnh trên có thể chữa được bằng Se.

Vitamin K
- Có rất nhiều hợp chất được biết có hoạt tính của vitamin K, trong đó vitamin K1 (Phylloquinon) quan trọng nhất, tìm thấy trong lá cây xanh. Menadion (Vitamin K3) là sản phẩm do vi khuẩn tổng hợp, mạnh hơn vitamin K1 3,3 lần.
- Menadion (2-methyl-1,4-naphtoquinon); (Vitamin K3: C11H8O2)
- Vì vitamin K tự nhiên và menadion ít tan trong nước nên ít được dùng làm thuốc tiêm hoặc thuốc uống và người ta đã dùng các hoạt chất menadion dưới dạng muối di-phosphat, di-sulfat, bi-sulfat và tốt nhất là hoạt chất muối di-natri di-phosphat của vitamin K3.

Nguồn gốc:
- Vitamin K có nhiều ở rau cỏ xanh, bột cá, lòng đỏ trứng. Vitamin K2 thì do vi khuẩn tổng hợp và tìm thấy ở cá thối. Vì thế, nếu dùng thuốc kháng sinh và sunfamit quá nhiều đã làm ngăn cản vi khuẩn đường ruột phát triển và làm con vật bị thiếu vitamin K.

Trao đổi vitamin K:
- Muối mật là nhân tố của sự hấp thu vitamin K. Vitamin K cần thiết cho sự tổng hợp prothrombin ở gan. Trong quá trình đông máu prothrombin là một tiền chất không hoạt động của thrrombin, có tác dụng chuyển đổi các sợi protein trong huyết tương của máu thành sợi không hòa tan, các sợi protein giữ các cục máu đông lại với nhau. Prothrombin phải kết hợp với ion Ca trước khi chúng trở nên có hoạt tính. Nếu không bổ sung vitamin K, phân tử prothrombin bị thiếu axit g-cacboxyglutamic, một axit amin đặc biệt có tác dụng kết hợp Ca. Vitamin K cũng có tác động trong phản ứng phosphoryl - oxy hóa và thí nghiệm cũng chứng minh rằng thiếu vitamin K cũng làm cho phản ứng tổng hợp protein gồm caprothrombin và các yếu tố đông máu bị chặn hẳn lại.

Triệu chứng do thiếu vitamin K:
- Ít xảy ra ở thú nhai lại, lợn vì vi khuẩn ở đường tiêu hóa như Escherichia coli tổng hợp được vitamin K.
- Ở gà, triệu chứng thiếu vitamin K là chứng thiếu máu và chậm thời gian đông máu, nếu thiếu vitamin K sẽ làm chậm thời gian đông huyết và có thể chết khi bị thương tích.
VITAMIN TAN TRONG NƯỚC
- Các vitamin xếp vào nhóm hòa tan trong nước là nhóm có tính chất hòa tan trong nước và là thành của coenzym. Không giống như các vitamin tan trong dầu, ngoại trừ cobalamin, các vitamin tan trong nước không dự trữ trong các mô của cơ thể với số lượng đáng kể và phải được thường xuyên cung cấp từ thức ăn. Đối với động vật nhai lại, vi sinh vật dạ cỏ có thể tổng hợp hầu như tất cả các vitamin tan trong nước và tự cung cấp đủ theo nhu cầu bình thường của cơ thể vật chủ. Tuy nhiên trong một số trường hợp, triệu chứng thiếu thiamin và cobalamin có thể xảy ra ở động vật nhai lại.

Vitamin nhóm B
- Thiamin (Vitamin B1): cũng được gọi là vitamin chống bệnh phù thũng (beri beri), đã được Funk chứng minh tác dụng và Jansen và Donath (1926) đã chiết xuất được từ cám gạo. Đây là vitamin rất dễ hòa tan trong nước, có mùi và vị của thịt, khá bền trong môi trường axit nhưng dễ bị phân giải trong môi trường trung tính.

Chức năng:
- Thiamin được phosphoryl hóa trong gan để hình thành coezym co-cacboxylacaza hoặc thiamin pyrophosphate (TPP) và lipothiamin de phyrophosphate (LTPP). TPP là một coenzym, tác dụng là khử CO2 của axit pyruvic, a-ketoglutarat và a-ketobutyrat cho ra acetyl-CoA để sinh năng lượng trong chu trình axit citric và sự tổng hợp valin ở vi khuẩn, nấm men và thực vật.

Triệu chứng thiếu thiamin:
- Thiếu thiamin gây ra bệnh phù thũng kèm theo các biến chứng như mất ăn, sụt cân, mệt mỏi cơ, suy tim và viêm thần kinh. Ở người, thiếu thiamin gây ra bệnh beri beri. Có thể giải thích là do vai trò của TPP trong việc khử cacboxyl của axit pyruvic. Khi thiếu thiamin trong khẩu phần của con vật, nồng độ của axit pyruvic và axit lactic tăng lên sẽ tích tụ lại trong cơ làm cho cơ bị mệt mỏi và yếu. Bởi vì axit pyruvic là một chất trao đổi quan trọng trong việc sử dụng năng lượng của chu trình axit citric vì vậy sẽ gây ra sự xáo trộn trao đổi cacbohydrat và lipit. Các tế bào thần kinh đặc biệt phụ thuộc vào sự sử dụng cacbohydrat, vì vậy khi thiếu thiamin mô thần kinh bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bởi vì coenzym A là một chất trao đổi quan trọng trong việc tổng hợp các axit béo, lipogenesis hoặc tổng hợp chất béo bị giảm đi.
- Vì thiamin phân bố rộng rãi trong thức ăn đặc biệt là ngũ cốc rất giàu thiamin nên triệu chứng thiếu thiamin ở lợn và gà thường ít xảy ra.

Nguồn:
- Thiamin có trong tất cả thức ăn động vật và thực vật. Ở thực vật, hạt chứa nhiều thiamin nhất. Hạt đậu rất giàu thiamin. Ở hạt ngũ cốc thiamin tập trung ở ngoại bì (cám). Men (yeast) khá giàu thiamin, nhưng nên nhớ men sống sẽ tranh giành thiamin với cơ thể gia súc vì vậy ta nên dùng men khô (chết) bổ sung vào trong thức ăn gia súc. Lợn có khả năng dự trữ thiamin đáng kể ở mô. Vì vậy thịt lợn là nguồn cung cấp thiamin rất tốt.
- Vi khuẩn ruột già tổng hợp được thiamin, nhưng ở gia súc dạ dày đơn nguồn thiamin này vô dụng vì nó luôn luôn ở dạng diphosphat và không có enzym nào trong ruột già có khả năng khử phosphat này.

Chất kháng thiamin:
- Có một số hợp chất có cấu tạo hóa học giống thiamin nhưng không có hoạt tính của thiamin như là pirithiamin. Một số loại thức ăn như cá và hải sản khác có chứa một lượng đáng kể enzym thiaminaza có tác dụng phân giải thiamin và làm cho thiamin mất hoạt tính sinh học. Đây là một enzym có tác dụng đối kháng với thiamin, nếu trộn cá sống vào khẩu phần con vật, thiaminaza sẽ làm phân giải thiamin. Tuy nhiên hoạt tính của enzym này sẽ bị phân hủy bởi nhiệt. Trong những năm gần đây có nhiều báo cáo về triệu chứng thiếu thiamin ở người, lợn, gà và chó do hoạt động của enzym thiaminaza của vi khuẩn bộ máy tiêu hóa gây ra.

Vitamin B12 (Cyannocobalamin):
- Vitamin B12 là vitamin được khám phá gần đây nhất, trước kia nó được biết như là yếu tố APF (Animal Protein Factor), do có khả năng trị được một số bệnh thiếu máu ác tính và chỉ tìm thấy ở động vật, vì vậy có tên là "yếu tố protein động vật".
- Tuy nhiên, vitamin B12 không phải là yếu tố duy nhất chống thiếu máu. Ở con vật bị bệnh thiếu máu, ngoài vitamin B12, con vật cũng thiếu một "yếu tố nội tại" (Intrinsic factor) do dạ dày tiết ra làm cho vitamin B12 không hấp thu được. Về phương diện này vitamin B12 được gọi là " yếu tố ngoại lai" (Exstinsic factor). Yếu tố nội tại có tác dụng làm cho yếu tố ngoại lai hấp thu nhanh bằng cách tách rời vitamin B12 khỏi protein.

Trao đổi:
- Yếu tố protein động vật (APF) là dưỡng chất cần thiết cho gia súc tăng trưởng (trừ loài nhai lại). Vitamin B12 là chất có hoạt lực của APF cao nhất.

Thiếu vitamin B12:
- Mặc dù vitamin B12 phân bố rất rộng rãi trong thức ăn, nhưng triệu chứng thiếu vẫn xảy ra ở lợn và gia cầm nhất là sau khi nuôi khẩu phần thức ăn chứa toàn thực vật lâu ngày. Triệu chứng thiếu vitamin B12 bao gồm chậm lớn, bàn chân nổi vảy, thiếu máu dẫn đến chứng thiếu máu ác tính.

Nguồn:
- Gan, thịt, cá, trứng, sữa là nguồn giàu vitamin B12. Vitamin B12 là loại vitamin hầu như độc nhất được tổng hợp nhờ vi sinh vật.

Vitamin C (Axit ascorbic):
- Vitamin C tồn tại trong tự nhiên dưới 3 dạng phổ biến là axit ascorbic, axit dehydroascorbic và dạng liên kết ascorbigen, tất cả đều ở dạng L. Dạng ascorbigen của vitamin C là dạng liên kết của nó với polypeptit. Trong thực vật, nó chiếm 70% tổng hàm lượng vitamin C. Dạng này bền với các chất oxy hóa nhưng hoạt tính chỉ bằng một nửa vitamin tự do.
- Vitamin C được tổng hợp dễ dàng ở thực vật. Đa số động vật, trừ chuột bạch, khỉ và người, đều có khả năng tổng hợp vitamin C từ đường glucoz. Cơ thể thiếu vitamin C sẽ mắc bệnh hoại huyết (chảy máu ở lợi, răng, ở các lỗ chân lông hoặc các nội quan) do các mạch máu bị mỏng. Vitamin C còn tham gia vào quá trình oxy hóa khử khác nhau của cơ thể, như quá trình tổng hợp cholagen, có tác dụng làm cho vết thương chống liền sẹo.
- Vitamin C rất cần thiết cho cơ thể, tăng sức đề kháng và chống lại các hiện tượng choáng hoặc ngộ độc bởi các hóa chất cũng như các độc tố của vi trùng. Vitamin C cũng có liên quan đến sự trao đổi gluxit ở cơ thể.
- Vitamin C có nhiều trong các loại rau quả xanh như: cam, chanh, dâu, dưa chuột, cà chua, rau, cải, hành...

OTHER TECHNICAL:
Copyright 2010 © ROVIMEO Co.,Ltd
Address: 2 Bis Nguyen Thi Minh Khai Str, Dakao Ward, District 1, Ho Chi Minh City
Phone: Fax: (84.08) 83910 2990
Mobile:  
Email: minhthinh@local.net
Website: www.rovimeo.com www.rovimeo.com.vn
Online: 5
Hit counter: 131861